https://science.thanglong.edu.vn/index.php/vola/issue/feedTạp chí Khoa học Thăng Long: Khoa học Ứng dụng2026-04-14T03:53:33+00:00Tạp chí Khoa học Thăng Long: Khoa học Ứng dụngtapchikh@thanglong.edu.vnOpen Journal Systems<p>Về Khoa học Ứng dụng: Kinh tế - Quản lý, Khoa học Sức khỏe, Khoa học Xã hội - Nhân văn, Nghệ thuật ... (Tập A), được xuất bản bằng tiếng Việt. </p> <p> </p>https://science.thanglong.edu.vn/index.php/vola/article/view/312KIẾN THỨC VÀ THỰC HÀNH CHĂM SÓC RĂNG MIỆNG CỦA HỌC SINH KHỐI 4, 5 TRƯỜNG TIỂU HỌC NGUYỄN DU, HÀ ĐÔNG, HÀ NỘI NĂM 20252025-12-31T08:55:26+00:00Nguyễn Thị Phượngphuongj705@gmail.comLê Thị Thu HuyềnNông Thị Mai AnhNguyễn Vũ TrườngTrương Thị Ngọc AnhBùi Thúy ThanhHà Thị HuyềnTrần Thị Hà MyMục tiêu: Mô tả kiến thức và thực hành chăm sóc răng miệng của học sinh khối 4, 5 Trường Tiểu học Nguyễn Du, Hà Đông, Hà Nội năm 2025. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 100 học sinh thuộc khối lớp 4, 5 bằng bảng câu hỏi về kiến thức và thực hành chăm sóc răng miệng của học sinh. Phân tích mô tả và đánh giá theo tiêu chí đạt/chưa đạt. Kết quả: Tỷ lệ đạt kiến thức đúng về chăm sóc răng miệng là 43,0%, chỉ 23,0% đạt yêu cầu về thực hành. Kết luận: Tỷ lệ học sinh đạt kiến thức và thực hành đúng còn thấp. Do đó, cần tăng cường truyền thông và phối hợp giữa nhà trường – y tế học đường – phụ huynh để giúp học sinh cải thiện kiến thức, thực hành chăm sóc răng miệng.2026-03-30T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học Thăng Long: Khoa học Ứng dụnghttps://science.thanglong.edu.vn/index.php/vola/article/view/314SỰ HÀI LÒNG VỀ MÔI TRƯỜNG HỌC TIỀN LÂM SÀNG CỦA SINH VIÊN ĐIỀU DƯỠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN TẠI TRƯỜN ĐẠI HỌC THĂNG LONG NĂM 20252026-01-10T03:26:23+00:00Lê Diệu Khánh HuyềnHana10012004@gmail.comNguyễn Thị PhượngNguyễn Thị Lan AnhVũ Trần Khánh LinhLê Thị Thu HuyềnThS Hà Thị HuyềnMục tiêu: (1) Mô tả sự hài lòng về môi trường học tiền lâm sàng của sinh viên điều dưỡng trường Đại học Thăng Long năm 2025 (2) Xác định một số yếu tố liên quan đến sự hài lòng về môi trường học tiền lâm sàng của đối tượng nghiên cứu. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 161 sinh viên điều dưỡng năm 2,3,4 trường Đại học Thăng Long bằng bộ câu hỏi tự thiết kế dựa trên tham khảo các nội dung của phiếu khảo sát sinh viên của Trường Đại học Thăng Long được đánh giá hàng năm gồm 6 phần với 41 câu hỏi. Kết quả: Điểm trung bình hài lòng chung về môi trường học tập tiền lâm sàng là 3,87 ± 1,10. Trong đó, sinh viên hài lòng nhất về mối quan hệ với giảng viên hướng dẫn (4,01 ± 1,17) và ít hài lòng nhất về cơ sở vật chất phòng học (3,78 ± 1,16). Kết luận: Tỷ lệ sinh viên hài lòng với môi trường học tiền lâm sàng khá cao, cần chú trọng nâng cao các giải pháp cải thiện chất lượng cơ sở vật chất và chất lượng dạy-học.2026-03-30T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học Thăng Long: Khoa học Ứng dụnghttps://science.thanglong.edu.vn/index.php/vola/article/view/315KIẾN THỨC VÀ THỰC HÀNH PHÒNG CHỐNG SỐT XUẤT HUYẾT DENGUE CỦA NGƯỜI DÂN TẠI PHƯỜNG HÀ ĐÔNG NĂM 20252025-12-31T08:29:08+00:00Vũ Trần Khánh Linhlinhmh9504@gmail.comLê Diệu Khánh HuyềnĐoàn Thị Huyền ThanhHoàng Thúy QuỳnhPhạm Thu TrangNguyễn Thị Khánh LinhHà Thị HuyềnTrần Thị Hà MyMục tiêu: Mô tả kiến thức và thực hành phòng chống sốt xuất huyết Dengue của người dân tại phường Hà Đông năm 2025. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 110 người dân sinh sống tại phường Hà Đông được phỏng vấn bằng bộ câu hỏi “Phỏng vấn cộng đồng về phòng chống sốt xuất huyết”. Kết quả:Tỷ lệ người dân có kiến thức và thực hành chung đạt về phòng chống bệnh sốt xuất huyết lần lượt là 88,2% và 54,5%. Kết luận: Nhìn chung, tỷ lệ người dân có kiến thức chung đạt về sốt xuất huyết Dengue khá cao, trong khi thực hành chung đạt ở mức trung bình. Do đó, cần đẩy mạnh các giải pháp cải thiện thực hành phòng chống sốt xuất huyết Dengue cho người dân.2026-03-30T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học Thăng Long: Khoa học Ứng dụnghttps://science.thanglong.edu.vn/index.php/vola/article/view/316KIẾN THỨC, NHU CẦU ĐÀO TẠO SƠ CẤP CỨU BAN ĐẦU CỦA SINH VIÊN NGÀNH DU LỊCH TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG NĂM 20252026-01-31T05:34:03+00:00Phạm Văn Hiệuhieutruong17072003@gmail.comTh.S Vũ DũngPhạm Quốc HùngTóm tắt: Ngành du lịch Việt Nam đang phát triển mạnh mẽ, kéo theo những thách thức về an toàn cho du khách. Hướng dẫn viên du lịch thường là người đầu tiên tiếp cận hiện trường tai nạn, do đó năng lực sơ, cấp cứu ban đầu (SCCBĐ) là vô cùng thiết yếu. Mục tiêu: Mô tả kiến thức về sơ, cấp cứu ban đầu của sinh viên du lịch tại Trường Đại học Thăng long năm 2025, tìm hiểu nhu cầu đào tạo về sơ, cấp cứu ban đầu của nhóm sinh viên trên. Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 320 sinh viên hệ chính quy từ tháng 03/2025 đến tháng 07/2025. Kết quả: Tỷ lệ sinh viên có kiến thức về sơ, cấp cứu ban đầu đạt yêu cầu là 84,7%, tuy nhiên kiến thức về các kỹ năng sinh tồn như hồi sức tim phổi (CPR) chỉ đạt 23,1%. Nhu cầu đào tạo rất cao (98,4%), nhưng thực tế chỉ có 29,4% từng được tham gia tập huấn. Kết luận: Sinh viên có nhu cầu đào tạo lớn, nhưng kỹ năng thực hành chuyên sâu còn yếu. Cần tăng cường đào tạo thực hành và diễn tập thực tế.2026-03-30T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học Thăng Long: Khoa học Ứng dụnghttps://science.thanglong.edu.vn/index.php/vola/article/view/317QUAN ĐIỂM VỀ TỰ TỬ CỦA SINH VIÊN NGÀNH ĐIỀU DƯỠNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN NĂM 20252026-04-07T02:21:33+00:00Nguyễn Hoàng Vân Anhnhva0303@gmail.comVũ DũngTự tử là hành động tự gây tử vong, được thực hiện có chủ ý. Quan điểm về tự tử là cách cá nhân nhận thức và đánh giá về hành vi tự tử cũng như người có ý định tự tử, thể hiện qua mức độ đồng cảm, thông cảm, sẵn sàng hỗ trợ hoặc ngược lại là kỳ thị, định kiến và phán xét. Đối với những người trực tiếp tiếp xúc với các đối tượng có ý định tự tử - các y bác sĩ, điều dưỡng sẽ có những suy nghĩ và quan điểm khác nhau về vấn đề có phần nhạy cảm này. Là những người sẽ trở thành lực lượng chính trong công tác chăm sóc sức khỏe tâm thần, việc tìm hiểu quan điểm của sinh viên ngành Điều dưỡng là vô cùng cần thiết. Mục tiêu nghiên cứu nhằm mô tả quan điểm về tự tử của sinh viên ngành Điều dưỡng trường Đại học Thăng Long năm 2025 và phân tích một số yếu tố liên quan. Phương pháp nghiên cứu là mô tả cắt ngang được thực hiện trên 245 sinh viên từ tháng 3 đến tháng 6 năm 2025. Kết quả: Điểm trung bình quan điểm về tự tử là 33,64 ± 4,039/46 điểm. Nhóm SV là dân tộc Kinh, hộ khẩu thành thị, đã lập gia đình, học hệ liên thông và học năm 3, năm 4 có điểm trung bình quan điểm tự tử cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm còn lại (p<0,05). Nhóm SV từng gặp người có ý định tự tử, đã từng học tập/làm việc tại cơ sở lão khoa/hồi sức, có người thân/bạn bè có ý định tự tử có quan điểm tích cực hơn về tự tử có ý nghĩa thống kê (p<0,05). Nhóm SV có triệu chứng lo âu có quan điểm về tự tử tích cực hơn so với nhóm còn lại, có ý nghĩa thống kê (p<0,05).2026-03-30T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học Thăng Long: Khoa học Ứng dụnghttps://science.thanglong.edu.vn/index.php/vola/article/view/318THỰC TRẠNG ÁP DỤNG QUY TRÌNH ĐIỀU DƯỠNG TRONG CHĂM SÓC NGƯỜI BỆNH CỦA HỌC VIÊN ĐIỀU DƯỠNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN2026-04-07T02:19:11+00:00Vũ Dũngdungv@thanglong.edu.vnThS Hồ Thị Vân TrangCN Vũ Thị Hồng LiênNguyễn Thị Thúy Hườngnguyenthithuyhuonggtvt@gmail.comNghiên cứu được thực hiện nhằm (1) mô tả thực trạng áp dụng quy trình điều dưỡng trong chăm sóc người bệnh của học viên điều dưỡng Trường Đại học Thăng Long và (2) phân tích một số yếu tố liên quan đến mức độ áp dụng quy trình này. Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang tiến hành trên 232 học viên điều dưỡng đang theo học tại Trường Đại học Thăng Long năm học 2024 - 2025. Thực trạng áp dụng quy trình điều dưỡng được đánh giá bằng bộ công cụ gồm 11 câu hỏi theo thang Likert 5 mức, với tổng điểm từ 11 đến 55; mức thực hiện tốt được xác định khi đạt ≥75% (≥42/55 điểm). Kết quả cho thấy 75,4% học viên đạt mức thực hiện tốt. Đa số học viên báo cáo thường xuyên áp dụng quy trình điều dưỡng, trong đó 46,1% trả lời “luôn luôn” và 34,1% trả lời “hầu hết thời gian”; tỷ lệ quan sát từ đồng nghiệp cũng ở mức tương tự. Các bước của quy trình nhận định, chẩn đoán, xác định kết quả mong đợi, lập kế hoạch, thực hiện, đánh giá và ghi chép đều được thực hiện thường xuyên với tỷ lệ cao (80 - 87%). Tỷ lệ học viên trả lời “thỉnh thoảng”, “hiếm khi” hoặc “không bao giờ” ở các nội dung đều thấp (0,4–<18%). Một số yếu tố liên quan có ý nghĩa thống kê gồm: tuổi <30 (p=0,005), làm việc tại khoa Ngoại - Sản (p<0,01), theo học chương trình đại học (p=0,009), thời gian cập nhật kiến thức về quy trình điều dưỡng >1 năm (p<0,001) và không được hướng dẫn thực hành tại nơi công tác (p=0,014). Các kết quả này cho thấy việc duy trì cập nhật kiến thức và hỗ trợ thực hành lâm sàng đóng vai trò quan trọng trong nâng cao hiệu quả áp dụng quy trình điều dưỡng. Kết luận: Nghiên cứu nhấn mạnh nhu cầu tăng cường đào tạo, giám sát và hỗ trợ lâm sàng nhằm đảm bảo học viên điều dưỡng có thể áp dụng quy trình điều dưỡng một cách đầy đủ, đồng bộ và bền vững trong thực hành chăm sóc người bệnh.2026-03-30T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học Thăng Long: Khoa học Ứng dụnghttps://science.thanglong.edu.vn/index.php/vola/article/view/343TÁC ĐỘNG CỦA ĐỔI MỚI SÁNG TẠO ĐẾN FDI VÀO ASEAN: TÍNH KHÔNG ĐỒNG NHẤT THEO ĐỘ MỞ THƯƠNG MẠI2026-04-06T03:08:08+00:00Lê Thị Kim Chungchungltk@thanglong.edu.vnVũ Thị Hồng Vânvuthihongvan05@gmail.comNguyễn Thị Dungnguyenthidung20003@gmail.comLê Quỳnh Ngangaq144@gmail.comNghiên cứu này xem xét tác động của đổi mới sáng tạo đến dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào các quốc gia ASEAN trong giai đoạn 2011–2024, đồng thời nhấn mạnh vai trò của độ mở thương mại trong việc định hình mối quan hệ này. Sử dụng mô hình bảng động và phương pháp bình phương tối thiểu có hiệu chỉnh sai lệch trong mô hình với biến giả (LSDVC) phù hợp với mẫu có số đơn vị chéo nhỏ. Kết quả nghiên cứu cho thấy đổi mới sáng tạo, cũng như các cấu phần đổi mới đầu vào và đầu ra, không có tác động đến FDI trong mẫu gộp ASEAN. Tuy nhiên, kết quả cho thấy sự khác biệt đáng kể giữa các quốc gia có mức độ mở cửa thương mại khác nhau. Cụ thể, đổi mới sáng tạo đầu ra có tác động tích cực và có ý nghĩa thống kê đối với FDI trong nhóm các quốc gia có độ mở thương mại cao, trong khi không quan sát thấy tác động đáng kể trong nhóm có độ mở thương mại thấp. Ngược lại, đổi mới sáng tạo đầu vào không có ý nghĩa trong cả hai nhóm. Kết quả này cho thấy tác động của đổi mới sáng tạo đến FDI không mang tính đồng nhất mà phụ thuộc vào điều kiện cấu trúc của nền kinh tế, đặc biệt là độ mở thương mại.2026-03-17T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học Thăng Long: Khoa học Ứng dụnghttps://science.thanglong.edu.vn/index.php/vola/article/view/345PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA CẤU TRÚC VỐN ĐẾN HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA CÁC NGÂN HÀNG TMCP VIỆT NAM2026-04-14T03:53:33+00:00Phạm Thị Bảo Oanhoanhptb@thanglong.edu.vnTrần Khánh Linhtrkhanhlinh.118@gmail.comNghiên cứu này được thực hiện nhằm xem xét tác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam. Để thực hiện nghiên cứu, chúng tôi sử dụng dữ liệu thu thập từ 20 ngân hàng trong giai đoạn năm 2015–2024, trong đó cấu trúc vốn được đo lường bằng tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản (EQTA) và hiệu quả kinh doanh được đại diện bởi tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA). Để đảm bảo độ tin cậy của kết quả, phương pháp ước lượng FGLS được sử dụng nhằm xử lý các vấn đề thường gặp trong dữ liệu bảng như phương sai sai số thay đổi và tự tương quan. Kết quả nghiên cứu cho thấy cấu trúc vốn có ảnh hưởng tích cực và có ý nghĩa thống kê đến hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng. Nói cách khác, việc duy trì tỷ lệ vốn chủ sở hữu ở mức hợp lý giúp các ngân hàng cải thiện khả năng sinh lời, đồng thời củng cố nền tảng tài chính và giảm thiểu rủi ro trong hoạt động. Những phát hiện này không chỉ bổ sung thêm bằng chứng thực nghiệm trong bối cảnh Việt Nam giai đoạn gần đây, mà còn gợi ý rằng các ngân hàng cần chú trọng xây dựng cấu trúc vốn phù hợp để nâng cao hiệu quả hoạt động và đảm bảo sự phát triển bền vững.2026-03-18T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học Thăng Long: Khoa học Ứng dụnghttps://science.thanglong.edu.vn/index.php/vola/article/view/320CHUYỂN ĐỔI SỐ TẠI DOANH NGHIỆP LOGISTICS VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP TOÀN CẦU2026-03-24T02:20:35+00:00Cung Minh Triềutrieucungminh@gmail.comBài báo tập trung đánh giá thực trạng và mức độ triển khai chuyển đổi số (CĐS) tại các doanh nghiệp logistics Việt Nam trong giai đoạn 2022-2024 nhằm đưa ra các giải pháp thúc đẩy tiến trình CĐS của các doanh nghiệp trong giai đoạn tới. Xuất phát từ thực tế chi phí logistics tại Việt Nam còn ở mức cao khoảng 16-17% tổng sản phẩm quốc nội (Theo Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ logistics Việt Nam, 2024). Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận về CĐS, tập trung vào ba yếu tố cốt lõi: Công nghệ, con người, và quy trình. Nghiên cứu chỉ ra mức độ ứng dụng công nghệ số đang tăng trưởng tích cực, tỷ lệ doanh nghiệp ứng dụng công nghệ số trong ngành logistics Việt Nam đạt 55% vào năm 2024, với các lĩnh vực được ưu tiên là theo dõi đơn hàng, quản lý khách hàng và phân tích dữ liệu chuỗi cung ứng. Quá trình CĐS gặp phải nhiều rào cản lớn, trong đó nổi bật nhất là rào cản khung pháp lý kìm hãm hoạt động số hóa (4,23 điểm), hạn chế về nguồn vốn đầu tư, sự thiếu hụt chuyên gia nội bộ và nhân sự có kỹ năng số, cùng với hạ tầng công nghệ thông tin quốc gia chưa đồng bộ. Khả năng khai thác giá trị kinh doanh từ tài sản dữ liệu vẫn còn yếu (3,07 điểm). Giải pháp đề xuất về đầu tư công nghệ phù hợp với quy mô, đào tạo nguồn nhân lực số, hợp tác với đối tác công nghệ và kiến nghị Nhà nước thực hiện hỗ trợ tài chính và chính sách ưu đãi, xây dựng hạ tầng công nghệ thông tin đồng bộ, và thúc đẩy hợp tác quốc tế nhằm đẩy mạnh CĐS trong giai đoạn 2025–2030.2026-03-25T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học Thăng Long: Khoa học Ứng dụnghttps://science.thanglong.edu.vn/index.php/vola/article/view/346BIÊN SOẠN LỊCH SỬ THỜI TRẦN VÀ VỊ TRÍ CỦA LĨNH NAM CHÍCH QUÁI2026-03-25T07:51:02+00:00Shiro MomokiBài viết này xem xét lại việc biên soạn lịch sử của Đại Việt thời Trần, phát triển trong mối quan hệ mật thiết với các thần thoại và truyện kể cùng thời, trong đó Lĩnh Nam chích quái chiếm vị trí then chốt. Mối quan hệ giữa các bộ biên niên sử Đại Việt như Đại Việt sử ký (1272) của Lê Văn Hưu, Đại Việt sử ký toàn thư thời Lê, và (Đại) Việt Sử lược thời Trầnđã từ lâu thu hút sự chú ý của giới học thuật. Bản Đại Việt sử lược của Đại học Sư phạm Bắc Kinh mới phát hiện gần đây, mặc dù là bản chép tay thời nhà Thanh nhưng phản ánh sự kiêng húy của các thành viên Hoàng tộc thời kỳ đầu nhà Trần, mang đến một góc nhìn mới cho cuộc tranh luận. Trong bài viết này, tác giả đã chỉ ra rằng khi so sánh các câu chuyện trong Đại Việt sử lược nói về việc dựng nước thời thượng cổ, sự suy vong của triều Lý và sự thành lập triều Trần với các tài liệu lịch sử khác, có khả năng cao Đại Việt sử lược (cũng như Đại Việt sử ký của Lê Văn Hưu) phản ánh tình hình chính trị từ kháng chiến chống Mông Nguyên đến những năm 1330. Tuy nhiên, các câu chuyện dựng nước và hình ảnh chính quyền nhà Trần được tập hợp trong các tác phẩm như Lĩnh Nam chích quái hay Đại Việt sử ký toàn thư lại phản ánh giai đoạn sau đó, khi các Nho thần dẫn dắt, cố gắng vượt qua “Cuộc khủng hoảng Toàn cầu Thế kỷ XIV” và tiến hành những cải cách thể chế quốc gia làm chia rẽ lịch sử Việt Nam.2026-02-15T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học Thăng Long: Khoa học Ứng dụnghttps://science.thanglong.edu.vn/index.php/vola/article/view/347TỪ TINH HOA CỔ HỌC ĐẾN GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC Ở NHÀ TRƯỜNG - BÀI HỌC TỪ NHẬT BẢN2026-03-25T07:54:50+00:00Nguyễn Thị OanhTrong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường hiện nay, việc giáo dục đạo đức con người nhằm hạn chế những tiêu cực vốn có của quá trình phát triển kinh tế, sẽ giúp con người trở nên thân thiện và tốt đẹp, tạo nên môi trường xã hội lành mạnh, văn minh. Nhật Bản là một nước đã vận dụng tối đa các giá trị tinh hoa có trong sách Luận ngữ và Mạnh Tử để xây dựng kinh tế thị trường hiện đại. Tác phẩm Luận ngữ và bàn tính của Shibusawa Eiichi渋沢栄一(1840-1931)đã đưa giáo lý Khổng giáo vào thời hiện đại - xây dựng một xã hội cân bằng giữa lợi nhuận và đạo đức. Các đức tính hiếu đễ, nhân nghĩa, trung tín... làm nên nền tảng của đức "nhân", đức tính quan trọng nhất trong đạo đức Nho giáo được ông đề cao, thường xuyên nhấn mạnh. Tác giả cũng không né tránh bàn đến những tiêu cực của đạo đức Nho giáo, nhưng lại giải thích rõ ràng theo hướng tiệm cận đến chân lý đạo đức, đó là sự hài hòa giữa "lợi" và "nghĩa". Ông nhấn mạnh đến hiệu quả của việc dạy đạo đức cho bọn trẻ ngay từ nhỏ cho thấy tư duy logic trong việc giáo dục. Từ những quan điểm về giáo dục của Shibusawa Eiichi trong cuốn Luận ngữ và bàn tính hy vọng sẽ gợi ra cho Việt Nam những bài học để "Việt hồn Hán tài" (Học lấy tinh túy của Hán để giữ lấy hồn cốt Việt) trở thành khẩu hiệu cho giáo dục đạo đức ở nhà trường trong tương lai.2026-03-15T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học Thăng Long: Khoa học Ứng dụnghttps://science.thanglong.edu.vn/index.php/vola/article/view/354LĨNH NAM CHÍCH QUÁI VÀ VIỆC BIÊN SOẠN GIÁO TRÌNH GIẢNG DẠY TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI2026-04-07T10:23:25+00:00Trần Thị Hoa Lêtranhoale1968@gmail.comBài viết bước đầu khảo sát, tổng thuật, đánh giá về vai trò, vị trí và sự xuất hiện của Lĩnh Nam chích quái trong chương trình và giáo trình giảng dạy văn học trung đại Việt Nam của trường Đại học Sư phạm Hà Nội, chủ yếu tập trung vào giai đoạn từ đầu thế kỉ XXI đến nay. Từ đó đề xuất một số ý kiến về việc dạy học văn bản Lĩnh Nam chích quái trong nhà trường với bối cảnh mới.2026-03-10T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học Thăng Long: Khoa học Ứng dụnghttps://science.thanglong.edu.vn/index.php/vola/article/view/355TÌM HIỂU PHONG TỤC KIÊNG KỊ CỦA NGƯỜI VIỆT QUA KHẢO CỨU BỘ SƯU TẬP THẦN TÍCH, THẦN SẮC TẠI THƯ VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI2026-04-11T09:57:58+00:00Vũ Thanh Bằngthanhbang26@gmail.comThư viện Khoa học xã hội hiện lưu trữ và bảo quản Bộ sưu tập Thần tích, thần sắc với số lượng lớn. Đây là kết quả của cuộc tổng điều tra các vị thần và tục lệ thờ thần ở làng, xã trên phạm vi toàn lãnh thổ Việt Nam do “Hội khảo cứu phong tục” (Pháp) tiến hành vào năm 1938. Các văn bản thần tích, thần sắc trong Bộ sưu tập được viết bằng chữ Quốc ngữ, chữ Pháp, chữ Hán Nôm với nội dung phản ánh phong tục tế tự, sự tích các vị thần và sắc phong thần. Kiêng kị là một nội dung quan trọng trong mỗi văn bản, phản ánh tâm thức và cách ứng xử của cộng đồng đối với vị thần được thờ (tránh gọi tên, tránh xâm phạm không gian thiêng, tránh sử dụng một số đồ lễ, hèm…). Kiêng kị vừa là yếu tố cốt lõi của niềm tin và thực hành thờ cúng, vừa là một phạm trù đạo đức - xã hội, góp phần tái tục tính thiêng, làm giàu bản sắc địa phương và củng cố sự cố kết cộng đồng. Khảo cứu kiêng kị trong Bộ sưu tập này sẽ góp phần làm rõ nội dung và đặc điểm của kiêng kị, đồng thời cung cấp cơ sở tham chiếu cho nghiên cứu lịch sử, văn hóa làng xã và sự biến đổi tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam hiện nay.2026-03-12T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học Thăng Long: Khoa học Ứng dụng