Tạp chí Khoa học Thăng Long: Khoa học Ứng dụng
https://science.thanglong.edu.vn/index.php/vola
<p>Về Khoa học Ứng dụng: Kinh tế - Quản lý, Khoa học Sức khỏe, Khoa học Xã hội - Nhân văn, Nghệ thuật ... (Tập A), được xuất bản bằng tiếng Việt. </p> <p> </p>vi-VNTạp chí Khoa học Thăng Long: Khoa học Ứng dụng3030-4873THỰC TRẠNG TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ LIÊN QUAN ĐẾN TÌNH TRẠNG LO ÂU VÀ HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ NGƯỜI BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYPE 2 ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN QUÂN Y 105, NĂM 2021
https://science.thanglong.edu.vn/index.php/vola/article/view/63
Nghiên cứu mô tả cắt ngang được tiến hành trên 270 người bệnh đái tháo đường type 2 đang điều trị ngoại trú tại Bệnh viện 105, trong đó tỷ lệ đạt mục tiêu điều trị rất thấp: 31,5% và 71,7% có kèm tăng huyết áp. Mục tiêu: (1) mô tả tỷ lệ tuân thủ điều trị và (2) phân tích một số yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị. Kết quả cho thấy: tỷ lệ người bệnh tuân thủ chế độ thuốc là 81,5%, tuân thủ chế độ tái khám là 48,2%, tuân thủ chế độ hoạt động thể lực là 61,1%, tuân thủ chế độ dinh dưỡng là 32,2%, tuân thủ chế độ kiểm soát đường huyết tại nhà là 14,1%. Tỷ lệ người bệnh có lo âu là 26,7%. Nhận thấy có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa hoạt động tư vấn của nhân viên y tế và tỷ lệ tuân thủ dùng thuốc và tái khám (p<0,05). Kết quả cho thấy tỷ lệ tuân thủ hoạt động thể lực ở nhóm lo âu cao hơn nhóm không lo âu ( 72,2% so với 57,1%, p <0,001) , ngược lại, tuân thủ chế độ dùng thuốc và tỷ lệ tái khám của nhóm có lo âu là 8,3% so với nhóm không lo âu là 53,5% (p<0,001). Nội dung tư vấn của nhân viên y tế mà người bệnh có thể làm theo được chỉ chiếm 13,3%. Kết luận: kết quả kiểm soát đường huyết chưa tốt có thể do tuân thủ điều trị chưa tốt. Tuân thủ điều trị chưa tốt liên quan đến chất lượng tư vấn của nhân viên y tế không tốt. Tình trạng lo âu tác động tiêu cực lên tuân thủ dùng thuốc và tái khám nhưng tác động tích cực lên hoạt động thể lực.Lê Thúy VânTrương Việt Dũng
Copyright (c) 2022 Tạp chí Khoa học Thăng Long: Khoa học Ứng dụng
2022-02-272022-02-272317MỐI LIÊN QUAN ĐẾN KỸ NĂNG VỀ THỰC HÀNH DỰA VÀO BẰNG CHỨNG CỦA ĐIỀU DƯỠNG VIÊN
https://science.thanglong.edu.vn/index.php/vola/article/view/65
Mục tiêu: Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến kỹ năng về thực hành dựa vào bằng chứng của điều dưỡng viên. Phương pháp: nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích trên 113 sinh viên Điều dưỡng đang học tại Trường Đại học Thăng Long. Kết quả: kỹ năng thường xuyên chia sẻ thông tin và thường xuyên đánh giá kết quả chăm sóc chiếm tỷ lệ cao nhất, những sinh viên tuổi từ 30 – 40 có điểm trung bình về kỹ năng cao hơn so với những nhóm tuổi còn lại; những sinh viên tìm kiếm thông tin từ 1 – 2 lần/tháng có điểm trung bình về kỹ năng cao hơn so với những nhóm còn lại. Kết luận: thường xuyên tổ chức các chương trình đào tạo, các khóa tập huấn, hội thảo, hội nghị về thực hành dựa vào bằng chứng; khuyến khích điều dưỡng viên tích cực nghiên cứu khoa học qua đó nâng cao kỹ năng thực hành dựa vào bằng chứng.Hoàng Thị PhươngLê Đức SangĐỗ Quang Tuyển
Copyright (c) 2023
2022-03-092022-03-09230914TÁC ĐỘNG CỦA ĐẠI DỊCH COVID-19 LÊN CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG LIÊN QUAN ĐẾN SỨC KHOẺ CỦA TRẺ EM VÀ TRẺ VỊ THÀNH NIÊN
https://science.thanglong.edu.vn/index.php/vola/article/view/67
Mục tiêu: Mục tiêu tổng quan của nghiên cứu này là đánh giá và cung cấp phân tích về tác động của đại dịch do coronavirus 2019 (COVID-19) đối với chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe (HRQoL) của trẻ em và trẻ vị thành niên. Phương pháp nghiên cứu: Tìm kiếm được thực hiện trên hai cơ sở dữ liệu nổi tiếng (PubMed và Web of Science). Hướng dẫn PRISMA(Preferred Reporting Items for Systematic Reviews and Meta-analyses- Các mục báo cáo ưu tiên cho tổng quan hệ thống và phân tích gộp) đã được sử dụng và dữ liệu liên quan đến HRQoL được trích xuất từ các nghiên cứu đủ điều kiện. Sáu nghiên cứu đáp ứng các tiêu chí và được đưa vào tổng quan này. Kết quả: Ba bài báo chỉ ra đại dịch COVID-19 ảnh hưởng đáng kể đến HRQoL của trẻ em và trẻ vị thành niên, và một bài báo khác không báo cáo so sánh giữa trước và trong đại dịch COVID-19, mặc dù kết quả cho thấy sự giảm HRQoL.Tuy nhiên, hai bài báo không tìm thấy những thay đổi đáng kể về HRQoL và một bài báo khác không báo cáo giá trị p. Chỉ có hai nghiên cứu phân tích sự khác biệt giới tính nhưng kết quả chưa tìm thấy sự khác biệt giữa trẻ em gái và trẻ em trai về tác động của đại dịch COVID-19 đối với HRQoL. Kết luận: Tổng quan nghiên cứu này có thể kết luận rằng COVID-19 có tác động tiêu cực đến HRQoL của trẻ em và trẻ vị thành niên.Nguyễn Thị Huyền TrangTS Nguyễn Thị Bình An
Copyright (c) 2022 Tạp chí Khoa học Thăng Long: Khoa học Ứng dụng
2022-03-052022-03-05231522ĐÁNH GIÁ TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG TRÊN NGƯỜI BỆNH TĂNG HUYẾT ÁP TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA NÔNG NGHIỆP NĂM 2020
https://science.thanglong.edu.vn/index.php/vola/article/view/68
Mục tiêu: Đánh giá tình trạng dinh dưỡng và xác định một số yếu tố liên quan đến tình trạng dinh dưỡng trên người bệnh tăng huyết áp. Đối tượng và phương pháp: Một nghiên cứu cắt ngang thực hiện trên 115 người bệnh tăng huyết đang điều trị nội trú tại Khoa Nội tiết – Tim mạch, Bệnh viện Đa khoa Nông nghiệp năm 2020. Nghiên cứu sử dụng chỉ số BMI (Body Mass Index), bộ công cụ SGA (Subjective Global Assessment), MNA (Mini-Nutritional Assessment) để đánh giá, sàng lọc nguy cơ dinh dưỡng người bệnh. Một số thông tin người bệnh như tuổi, giới, nghề nghiệp, thời gian mắc tăng huyết áp và các chỉ số hóa sinh được thu thập thông qua phỏng vấn và trích xuất hồ sơ bệnh án điện tử. Kết quả: Theo BMI, tỷ lệ người bệnh suy dinh dưỡng là 13%, trong đó có tới 40,9% người bệnh thừa cân, béo phì. Theo SGA, người bệnh dưới 65 tuổi có SGA-B chiếm 21,1% trong khi đó người bệnh từ 65 tuổi trở lên có nguy có dinh dưỡng theo MNA là 37,6%, bị suy dinh dưỡng là 15,6%. Chưa tìm thấy mối liên quan giữa tình trạng suy dinh dưỡng với các yếu tố tuổi, giới, thiếu máu theo hemoglobin. Kết luận: tỷ lệ nguy cơ dinh dưỡng và suy dinh dưỡng trên người bệnh tăng huyết áp chiếm tỷ lệ khá cao đặc biệt ở nhóm người bệnh trên 65 tuổi. Đồng thời, tỷ lệ thừa cân, béo phì cũng cho thấy tỷ lệ báo động lên tới 40,9% theo BMI.Nguyễn Thị Thùy LinhNguyễn Châu HàLê Thị Minh LợiHoàng Thị QuỳnhPhạm Thị Diệp
Copyright (c) 2022 Tạp chí Khoa học Thăng Long: Khoa học Ứng dụng
2022-03-052022-03-05232328ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG NGƯỜI BỆNH TỔN THƯƠNG DA DO DỊ ỨNG ĐIỀU TRỊ TẠI BỆNH VIỆN BẠCH MAI NĂM 2021
https://science.thanglong.edu.vn/index.php/vola/article/view/73
Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng của người bệnh dị ứng có tổn thương da tại bệnh viện Bạch Mai năm 2021. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả tiến cứu trên 196 người bệnh từ 15 tuổi trở lên được chẩn đoán mắc ít nhất một trong các bệnh dị ứng có tổn thương da. Nghiên cứu tiến hành từ tháng 11/2020 đến tháng 12/2021. Tại Trung tâm Dị ứng miễn dịch lâm sàng – BV Bạch mai. Số liệu thu thập dựa trên bệnh án nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu: Các thể lâm sàng gặp nhiều nhất là Mày đay - phù mạch (49,49%); Hội chứng DRESS (12,24%); Hội chứng Stevens - Johnson (11,73%) và Viêm da dị ứng (9,69%). Các biểu hiện ở da rất đa dạng, thường gặp nhất là ngứa (60,20%); nổi mày đay (49,49%); ban đỏ (42,86%); mụn nước (22,96%); phù nề (16,84%); ban hình bia bắn (15,31%) và bọng nước (11,73%). Ít gặp nhất là các biểu hiện dát thâm trên da (2,55%) và hồng ban nút (0,51%). Các biểu hiện ở niêm mạc thường gặp nhất là viêm loét kết - giác mạc (15,31%); loét bộ phận sinh dục (12,24%) và loét miệng (10,71%). Các biểu hiện lâm sàng khác thường gặp nhất là mất ngủ (41,84%); sốt (22,45%); rối loạn tiêu hóa(9,69%); đau bụng (8,16%) và ho, khạc đờm (6,12%). Một số biểu hiện ít gặp là đau đầu (1,02%); tiểu buốt (1,02%); buồn nôn, nôn (1,53%).Vũ DũngNguyễn Thị VânTrần Thị Sinh
Copyright (c) 2023
2022-03-042022-03-04232935ĐÁNH GIÁ PHƯƠNG PHÁP DẠY – HỌC LÂM SÀNG CỦA SINH VIÊN ĐIỀU DƯỠNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
https://science.thanglong.edu.vn/index.php/vola/article/view/74
Mục tiêu: (i) Mô tả thực trạng áp dụng các phương pháp dạy – học lâm sàng cho sinh viên điều dưỡng Đại học Thăng Long tại các cơ sở thực tập; (ii) Xác định mối liên quan giữa các phương pháp dạy học trên lâm sàng với sự hài lòng và kết quả kỹ năng lâm sàng của sinh viên điều dưỡng. Phương pháp: nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 92 sinh viên điều dưỡng năm 3 và năm 4 trường Đại học Thăng đang thực hành lâm sàng tại các cơ sở thực hành của trường. Kết quả: các phương pháp dạy-học lâm sàng thường được áp dụng bao gồm: Phương pháp dạy-học bên giường bệnh có người bệnh, dạy-học trên người bệnh kết hợp thảo luận tại hội trường, dạy- học thực hiện các thủ thuật, dạy-học qua ca lâm sàng, dạy-học khi trực và dạy-học qua dữ liệu y học. Lượng giá chủ yếu bằng hình thức viết báo cáo, đánh giá sổ theo dõi lâm sàng, kiểm tra quy trình kỹ thuật qua bảng kiểm và lập kế hoạch chăm sóc các ca lâm sàng. Có 91% sinh viên hài lòng với phương pháp dạy-học và lượng giá, 66,31% sinh viên đạt kỹ năng từ khá trở lên. Các phương pháp dạy-học khi trực, dạy-học trên người bệnh kết hợp thảo luận tại hội trường, lượng giá qua tư duy lâm sàng có mối liên quan đến sự hài lòng và kết quả học tập của sinh viên với p < 0,05.Hoàng Thị PhươngLê Đức SangVũ Dũng
Copyright (c) 2023
2022-03-052022-03-05233744ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ CHĂM SÓC TRẺ SƠ SINH VÀNG DA ĐƯỢC CHIỂU ĐÈN TẠI BỆNH VIỆN NHI TRUNG ƯƠNG
https://science.thanglong.edu.vn/index.php/vola/article/view/75
Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng và chăm sóc trẻ sơ sinh vàng da được chiếu đèn tại Bệnh viện Nhi Trung ương năm 2021. Phương pháp: Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang, mô tả một số đặc điểm lâm sàng trên 91 trẻ sơ sinh vàng da đang điều trị bằng chiếu đèn tại Trung tâm Sơ sinh, Bệnh viện Nhi Trung ương. Kết quả: Tỷ lệ trẻ trai là 59,3% và trẻ gái là 40,7%; thời điểm xuất hiện vàng da chủ yếu là 48- <72 giờ sau sinh (chiếm 42,9%); trẻ nhẹ cân (< 2500gr) chiếm 24,2%; 45,1% trẻ chiếu đèn vàng da có mắc các bệnh kèm theo. Nhóm trẻ bất đồng nhóm máu mẹ - con vàng da sớm hơn so với nhóm nguyên nhân vàng da khác trong 48h sau sinh, chủ yếu trẻ được chiếu đèn ở 4-7 ngày tuổi (40,7%); tỷ lệ trẻ có tổn thương thứ phát khi đang chiếu đèn là 4,4%. Kết luận: Vàng da ở trẻ trai gặp nhiều hơn trẻ gái, vàng da sơ sinh thường xuất hiện rõ rệt nhất từ 48 - <72h sau sinh, trẻ sinh non tháng xuất hiện vàng da sớm ngay trong 24h đầu. Bất đồng nhóm máu mẹ - con là nguyên nhân thường gặp, có thể gây vàng da sớm, nặng trên trẻ sơ sinh, đặc biệt trẻ sinh non. Tổn thương thứ phát ghi nhận được là sốt, mẩn đỏ da, sụt cân.Nguyễn Khánh HuyềnHà Thị HuyềnCát Khánh Linh
Copyright (c) 2023
2022-03-052022-03-05234550CẤU TRÚC LÀNG XÃ XUNG QUANH HUẾ TRONG GIAI ĐOẠN THẾ KỶ XVII-XVIII QUA NGHIÊN CỨU TƯ LIỆU ĐIỀN DÃ
https://science.thanglong.edu.vn/index.php/vola/article/view/76
Kể từ sau Đổi mới, các nhà nghiên cứu nước ngoài đã tiến hành điều tra thực địa trong nước để sưu tập tài liệu và nghiên cứu lịch sử tiền cận đại Việt Nam và đã đạt được những thay đổi lớn trong thành tựu nghiên cứu. Đặc biệt, các nhà nghiên cứu lịch sử Việt Nam tại Nhật Bản đã và đang tích cực thu thập các tài liệu làng xã thời tiền hiện đại và các tư liệu lịch sử địa phương. Kết quả là kể từ năm 2000, nghiên cứu về lịch sử Việt Nam đã có nhiều thay đổi đáng kể với việc xuất bản các nghiên cứu sử dụng các tư liệu lịch sử mới này. Tuy nhiên, ở Việt Nam, việc nghiên cứu để vẽ lên bức tranh mới về xã hội tiền hiện đại bằng cách sử dụng những tư liệu lịch sử mới này vẫn chưa được phát triển. Nguyên nhân lớn nhất của tình hình này là học giới Việt Nam chưa thể tương đối hóa những nét văn hóa truyền thống. Nói cách khác, do có khuynh hướng coi những “nền văn hóa truyền thống” này như những bản thể phi lịch sử và tuyệt đối hóa sự hiện diện phổ biến trong xã hội Việt Nam ở mọi thời đại, nỗ lực làm rõ những quá trình hình thành lịch sử qua việc phân tích tài liệu lịch sử đã không được thúc đẩy. Bằng các phương pháp nghiên cứu lịch sử, phương pháp khu vực học, phương pháp điều tra điền dã và phân tích tư liệu..., bài viết này sẽ công bố những tài liệu quan trọng để tìm hiểu xã hội làng xã và cấu trúc gia đình thời tiền hiện đại tại các khu vực xung quanh Huế, qua đó hy vọng có thể thúc đẩy sự phát triển nghiên cứu lịch sử Việt Nam qua tài liệu Hán Nôm làng xãShinya Ueda
Copyright (c) 2022 Tạp chí Khoa học Thăng Long: Khoa học Ứng dụng
2022-03-052022-03-05235162GIỚI THIỆU VĂN BẢN “ĐIỀN CHẾ QUÂN CẤP LỆ” VÀ CHẾ ĐỘ RUỘNG ĐẤT ĐẦU THỜI NGUYỄN
https://science.thanglong.edu.vn/index.php/vola/article/view/77
Điền chế quân cấp lệ là văn bản của triều đình do Công Đồng ban hành quy định về việc phân chia ruộng đất công trong làng xã. Nội dung của văn bản quy định các mức khẩu phần ruộng đất công trong làng chia cho các quan lại võ giai, văn giai từ nhất phẩm đến cửu phẩm với các chức, tước khác nhau cho tới các hạng dân đinh, cấm binh, tinh binh, cố cùng, lão nhiêu, cô nhi, quả phụ…được nhận từ 3 đến 18 phần. Đây là văn bản gốc được lưu trữ tại làng xã có ý nghĩa quan trọng trong việc nghiên cứu so sánh giữa các quy định của triều đình ban hành với việc thực hiện tại thực tế ở địa phương. Từ đây có thể thấy được mối quan hệ tương tác giữa địa phương và trung ương trong lịch sửTrần Văn Quyến
Copyright (c) 2022 Tạp chí Khoa học Thăng Long: Khoa học Ứng dụng
2022-03-052022-03-05236376BÀN VỀ VIỆC GIỮ GÌN SỰ TRONG SÁNG CỦA TIẾNG VIỆT (QUA KHẢO SÁT MỘT SỐ BIẾN THỂ TỪ VỰNG TRÊN BÁO ĐIỆN TỬ HIỆN NAY)
https://science.thanglong.edu.vn/index.php/vola/article/view/78
Cùng với biến thể ngữ âm và biến thể câu, biến thể từ vựng là một hiện tượng ngôn ngữ cần được quan tâm nghiên cứu, đặc biệt trong tiếng Việt. Bài viết này hướng tới việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt thông qua việc khảo sát thực trạng sử dụng biến thể từ vựng tiếng Việt trên một số trang báo điện tử và đề xuất một số khuyến nghị nhằm nâng cao năng lực sử dụng ngôn ngữ viết đối với nhà báo hiện nay.Vũ Linh Chi
Copyright (c) 2023
2022-03-052022-03-05237785NHỮNG “ĐIỂM NGHẼN” CỦA LUẬT DOANH NGHIỆP HIỆN HÀNH
https://science.thanglong.edu.vn/index.php/vola/article/view/79
Ngày 17/6/2020, Quốc hội thông qua đạo luật mới về doanh nghiệp “Luật Doanh nghiệp 2020” có hiệu lực từ 01/01/2021 với một số thay đổi đáng kể so với Luật Doanh nghiệp trước đó, chẳng hạn như cắt giảm các thủ tục hành chính, cho phép chuyển đổi doanh nghiệp tư nhân thành công ty cổ phần… Tuy nhiên, khi nghiên cứu kỹ Luật Doanh nghiệp mới, tác giả bài này đã phát hiện ra một số sai sót và mâu thuẫn trong các quy định về từng loại hình doanh nghiệp. Đó là: quy định sai về thẩm quyền triệu tập họp Hội đồng thành viên của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên; cùng là chủ sở hữu, nhưng Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là cá nhân có nhiều đặc quyền và đặc lợi pháp lý hơn so với Doanh nghiệp tư nhân; quy định về tổ chức cuộc họp Hội đồng thành viên đối với trường hợp Hội đồng chỉ đúng có 2 thành viên không khả thi trong thực tế; quy định biểu quyết một số vấn đề quan trọng tại cuộc họp của Đại hội đồng cổ đông không hợp lý và thiếu logic; “Thành viên hợp danh” là một khái niệm không rõ ràng trong Luật Doanh nghiệp 2020; vai trò của Chủ tịch Hội đồng thành viên rất mờ nhạt, còn Giám đốc thực ra hầu như không có vai trò gì trong công ty hợp danh; địa vị pháp lý của Giám đốc doanh nghiệp tư nhân không được quy định rõ ở Luật Doanh nghiệp; và việc không quy định Tư cách pháp nhân cho doanh nghiệp tư nhân gây bất lợi cho loại hình doanh nghiệp này trong hoạt động kinh doanh. Trong bài này, tác giả đề xuất một số giải pháp khắc phục các khiếm khuyết pháp lý nêu trên.Nguyễn Đình Tài
Copyright (c) 2023
2022-03-052022-03-05238793MỘT SỐ NỀN TẢNG PHẦN MỀM TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM ỨNG DỤNG TRONG GIẢNG DẠY LOGISTICS VÀ QUẢN LÝ CHUỖI CUNG ỨNG, ỨNG DỤNG TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
https://science.thanglong.edu.vn/index.php/vola/article/view/80
Bài báo xem xét các nền tảng phần mềm có thể ứng dụng trong giảng dạy logistics và quản lý chuỗi cung ứng trên thế giới trong bối cảnh công nghiệp 4.0 lan tỏa khắp các quốc gia. Sự phát triển công nghiệp 4.0 giúp các công ty phát triển chuỗi cung ứng linh hoạt, cho phép hội nhập giữa tất cả các yếu tố của chuỗi cung ứng bao gồm nhà cung cấp, nhà sản xuất, khách hàng và tích hợp theo thời gian thực. Ngày càng có nhiều các nền tảng phần mềm có tính ứng dụng cao. Tuy nhiên, mỗi phần mềm có những chức năng và thế mạnh riêng liên quan đến các mảng logistics và quản lý chuỗi cung ứng. Tại trường Đại học Thăng Long hiện đã ứng dụng một số phần mềm trong giảng dạy và nhận được những phản hồi tích cực từ người học. Qua đó, Nhà trường tiếp tục triển khai theo hướng ứng dụng để mang lại hiệu quả học tập tốt cho sinh viên.Nguyễn Thị Vân Nga
Copyright (c) 2022 Tạp chí Khoa học Thăng Long: Khoa học Ứng dụng
2022-03-252022-03-252395101VĂN HÓA VIỆT NAM TRONG VĂN HÓA PHƯƠNG ĐÔNG XƯA: ÔN CỐ TRI TÂN
https://science.thanglong.edu.vn/index.php/vola/article/view/81
Văn hóa phương Đông có vị trí quan trọng trong phạm vi toàn thế giới. Sự khác nhau giữa văn hóa Đông, Tây từ góc nhìn vĩ mô nhất về triết lý nhân sinh và phong cách tư duy từ đó là hai ngả phát triển cuộc sống, hai hình thái văn hóa. Văn hóa Việt Nam trong văn hóa phương Đông xưa thể hiện ở Kinh Dịch, Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo, mẫu người lý tưởng. Trong hoàn cảnh đó cuộc đụng độ văn hóa Đông, Tây ở Việt Nam đã diễn ra với hai mặt: tích cực và tiêu cực. Tích cực là hỗ trợ văn hóa phương Đông phát triển theo hướng hiện đại hóa, dân chủ hóa. Tiêu cực là tạo ra sự áp đảo văn hóa phương Đông theo qui luật áp đảo và bị áp đảo trong tương quan mạnh yếu. "Ôn cố tri tân" là qui luật phát triển đất nước từ phạm vi quốc gia đại sự đến mọi gia đình, mọi cá nhân ở mọi phương diện của cuộc sống. Đây là chuyện đãi cát tìm vàng, bảo tồn di sản; về bản chất là khác hẳn với chuyện phục cổ. Cho nên rất cần được lãnh đạo đất nước, các nhà tuyên huấn, các trí thức khoa học xã hội và nhân văn đặc biệt quan tâm trong khi thực hiện đường lối “Kinh tế là trọng tâm, văn hóa là nền tảng tinh thần, hòa nhập mà không hòa tan, xây dựng một nền văn hóa hiện đại, tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.”Nguyễn Đình Chú
Copyright (c) 2022 Tạp chí Khoa học Thăng Long: Khoa học Ứng dụng
2022-03-052022-03-0523103110MỘT VÀI KHÍA CẠNH VĂN HIẾN, VĂN MINH, VĂN VẬT, VĂN HÓA VÀ GÓC NHÌN ĐỐI VỚI NGƯỜI VIỆT Ở NƯỚC NGOÀI
https://science.thanglong.edu.vn/index.php/vola/article/view/82
Người Việt Nam di cư ra nước ngoài có thể vì nhiều nguyên nhân khác nhau song luôn thấm đẫm văn hiến, văn hoá Việt. Ở họ, thân hải ngoại nhưng tâm can luôn hướng về nơi chôn nhau cắt rốn cội nguồn. Các giá trị của văn hiến, văn hoá Việt đã đi vào con tim, khối óc của họ và họ đã có nhiều đóng góp cho quê hương đất nước. Các khái niệm văn hiến, văn minh, văn vật và văn hóa có sự giao thoa và chúng có mối quan hệ biện chứng mật thiết, tác động tương hỗ lẫn nhau để rồi văn hiến, cái được kết tinh tác động đến văn minh, văn hóa nâng lên một tầm cao mới. Lịch sử cứ thế mà phát triển để cuối cùng xây nên văn hiến của một dân tộc, tạo nên hiền tài là nguyên khí quốc gia.Nguyễn Cảnh Toàn
Copyright (c) 2022 Tạp chí Khoa học Thăng Long: Khoa học Ứng dụng
2022-03-052022-03-0523111118THỰC TRẠNG VÀ THANG ĐO VỀ SỰ KIỆT SỨC LÀM CHA MẸ TRONG ĐẠI DỊCH COVID-19
https://science.thanglong.edu.vn/index.php/vola/article/view/83
Đại dịch Covid-19 đã và đang để lại những hậu quả năng nề trên trên toàn thế giới ở nhiều lĩnh vực khác nhau, kinh tế, xã hội và đời sống gia đình. Hàng triệu gia đình trên thế giới bị xáo trộn cuộc sống, do tác động của Covid 19 khi trường học bị đóng cửa, cha mẹ vừa phải làm việc vừa phải thực hiện nghĩa vụ chăm sóc và giáo dục con cái. Điều này đã dẫn đến tình trạng kiệt sức của cha mẹ. Tuy nhiên, những nghiên cứu về vấn đề kiệt sức của cha mẹ trong thời kỳ đai dịch Covid -19 còn hạn chế, chính vì vậy bài viết này thông qua việc thu thập tài liệu, nhằm mục đích phân tích tình trạng kiệt sức của cha mẹ ở môt số nước trên thế giới, bao gồm Ý, Thổ Nhĩ Kỳ, Iran và Malaysia. Phần giới thiệu và so sánh công cụ để đo lường mức độ kiệt sức của cha mẹ cũng được trao đổi trong bài viếtNguyễn Thị Kim DungNguyễn Thị Hải
Copyright (c) 2022 Tạp chí Khoa học Thăng Long: Khoa học Ứng dụng
2022-03-252022-03-2523119127