TÌNH TRẠNG LO ÂU VÀ CĂNG THẲNG CỦA SINH VIÊN ĐIỀU DƯỠNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG KHI THỰC HÀNH LÂM SÀNG TẠI BỆNH VIỆN TRONG ĐẠI DỊCH COVID-19
Nội dung chính của bài viết
Tóm tắt
Mục tiêu nghiên cứu: 1) Đánh giá tình trạng lo âu và căng thẳng của sinh viên điều dưỡng trường Đại học Thăng Long khi thực hành lâm sàng tại bệnh viện trong đại dịch COVID-19. 2) Xác định một số yếu tố liên quan đến tình trạng lo âu và căng thẳng của sinh viên trên. Phương pháp: nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích thực hiện trên 106 sinh viên ngành Điều dưỡng, Trường Đại học Thăng Long thực hành lâm sàng tại bệnh viện trong bối cảnh COVID-19.Thông tin được thu thập qua bộ câu hỏi được xây dựng dựa trên thang đo DASS-21. Kết quả cho thấy: Tỷ lệ lo âu là 50,9% và theo mức độ rất nặng, nặng, vừa, nhẹ lần lượt là 6,6%, 9,4%, 22,6%, 12,3%. Tỷ lệ căng thẳng là 44,3% và theo mức độ rất nặng, nặng, vừa, nhẹ lần lượt là 2,8%, 10,3%, 14,2%, 17,0%. Nữ giới có tình trạng căng thẳng cao hơn nam giới (OR:…..95% CI:…….); Sinh viên năm thứ tư có tình trạng lo âu (OR:5,92; 95%CI: 2,55-13,7) và căng thẳng (OR:3,77; 95%CI: 1,68-8,47) cao hơn sinh viên năm thứ ba; Nhóm sinh viên cảm thấy áp lực khi đi học lâm sàng và thi vấn đáp lâm sàng có tình trạng lo âu và căng thẳng cao hơn nhóm sinh viên không áp lực (OR: 4,62, 95%CI: 1,42-15,04) và (OR: 3,38, 95%CI: 1,17-9,74) ; Thu nhập của gia đình không ổn định khiến sinh viên có nguy cơ căng thẳng cao hơn so với gia đình có thu nhập ổn định (OR:2,61; 95%CI: 1,13-11,93); Sinh viên không hài lòng với mối quan hệ với gia đình có nguy cơ lo âu cao hơn sinh viên cảm thấy hài lòng (OR:2,92; 95%CI:1,30-6,59); Sinh viên không hài lòng với mối quan hệ với nhân viên y tế có nguy cơ lo âu (OR:3,26; 95%CI: 1,22-8,72) và căng thẳng (OR:3,99; 95%CI: 1,36-11,70) cao hơn sinh viên cảm thấy hài lòng. Kết luận: Tỷ lệ lo âu và căng thẳng của sinh viên điều dưỡng khi thực hành lâm sàng tại bệnh viện trong đại dịch COVID-19 xảy ra trên gần một nửa tổng số sinh viên tham gia nghiên cứu. Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa tình trạng lo âu và căng thẳng với giới tính, năm học, áp lực đi học và thi vấn đáp lâm sàng, thu nhập của gia đình, mối quan hệ với gia đình, mối quan hệ với nhân viên y tế.
Chi tiết bài viết
Tài liệu tham khảo
[2] Nguyễn Bích Ngọc và Nguyễn Văn Tuấn (2021). Thực trạng stress của sinh viên điều dưỡng Trường Cao đẳng Y tế Hải Phòng năm 2020. Tạp chí Nghiên cứu Y học. 143(7), tr. 159-166.
[3] Juan Gao, et al. (2021). The mental health of nursing students amid coronavirus disease 2019 pandemic. Frontiers in psychology.
[4] Majid Najafi Kalyani, et al. (2019). How do nursing students experience the clinical learning environment and respond to their experiences? A qualitative study. BMJ open. 9(7), pp. e028052.
[5] Priscilla Margaret Nodine, et al. (2021). Graduate nursing student stressors during the COVID-19 pandemic. Journal of Professional Nursing. 37(4), pp. 721-728.
[6] Jun Shigemura, et al. (2020). Public responses to the novel 2019 coronavirus (2019‐nCoV) in Japan: Mental health consequences and target populations. Psychiatry and clinical neurosciences. 74(4), pp. 281.
[7] Truc Thanh Thai, et al. (2021). Perceived stress and coping strategies during the COVID-19 pandemic among public health and preventive medicine students in Vietnam. Psychology Research and Behavior Management. 14, pp. 793-799.